Đào tạo nghề quy về một mối Cần "cách mệnh" toàn diện ở bậc học phổ biến Đổi mới giáo dục: Cần bắt đầu từ tư duy
Việc chểnh mảng đào tạo kỹ năng là căn nguyên chính của tình trạng vô kỷ luật, thiếu chuyên nghiệp, tinh thần bổn phận công việc không cao, hiệu quả công việc thấp của cần lao Việt Nam chứ không phải do tay nghề kém, trình độ thấp. Bởi thế, hồ hết sinh viên, học viên sau khi ra trường đều phải qua khóa đào tạo lại tại doanh nghiệp mới có thể bắt tay vào công việc. Kỹ năng mềm là những kỹ năng thuộc về con người, không mang tính chuyên môn, chẳng thể sờ nắm, không phải là kỹ năng cá tính đặc biệt. Bạn có phải là người có nghĩ suy tích cực,tận tâm? Bạn giao tế khéo léo? Bạn giải quyết các vấn đề hiệu quả? Đây chính là dạng câu hỏi các nhà tuyển dụng đặt ra nhằm đo lường kỹ năng mềm của ứng viên khi phỏng vấn xin việc. Câu chuyện người lao động Việt Nam phải tham dự một khóa đào tạo ngắn về tiếng nói, xử sự, cũng như ý thức tổ chức kỷ luật, những điều nên làm, nên tránh trước khi sang lao động tại Hàn Quốc, Malaysia là một ví dụ tiêu biểu.Theo đánh giá của Phó Giám đốc đảm đang lĩnh vực xuất khẩu lao động của Công ty Vietravel Nguyễn Quang Hưng thì kỹ năng đóng vai trò quan trọng như một chiếc máy cái, đây mới là nguyên tố quyết định chất lượng, năng lực của người lao động chứ không phải trình độ và bằng cấp. Chìa khóa vào đời Kỹ năng mềm không phải là thiên bẩm mà do đào tạo mà nên. Chính thành thử, kỹ năng mềm cần được học càng sớm càng tốt để người học có nhiều thời kì thực hành và biến kỹ năng mềm thành thói quen và “phản xạ có điều kiện”. Chính những phản xạ có điều kiện này lâu dài sẽ tạo thành tác phong cần lao, làm việc, làm nên một người cần lao chuyên nghiệp và hiệu quả dù trong bất cứ lĩnh vực, công việc nào. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục, đào tạo của Việt Nam lâu nay chỉ chú trọng chuyện truyền đạt tri thức để hoàn thành chương trình dẫn đến bằng cấp, nghĩa là đào tạo trình độ, chứ không hề quan tâm tới đào tạo các kỹ năng mềm. TS. Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng “Thật sai lầm trong dạy nghề hiện nếu quá nhấn mạnh nguyên tố "bằng cấp"để cuốn người vào học nghề. Mục đích dạy nghề, dạy kỹ năng nghề để có việc làm và thu nhập mới là cái người lao động đích thực cần và cần phải có”. Tùy theo yêu cầu của công việc, mỗi cấp độ nghề đòi hỏi những cấp độ kỹ năng khác nhau. Chả hạn như với người dân cày và ngư gia, họ không cần học lý thuyết hay trình độ, cái họ cần trang bị là kỹ năng thương lượng giá, bảo quản thúc biến sản phẩm, phân tách nhận định luồng cá, phòng tránh bão cũng như những tranh chấp xung đột trên biển. Nhưng với kỹ sư, bác sĩ thì cần kỹ năng đọc hiểu, nghiên cứu tài liệu nước ngoài, thuyết trình trước hội thảo quốc tế. Kỹ năng có thể đơn giản hoặc phức tạp tùy theo thuộc tính công việc và trình độ người tiếp thu, nhưng vai trò của nó là chẳng thể thiếu. Trong bối cảnh hiện có đến trên 84% lực lượng lao động chưa được đào tạo thì tư duy dạy nghề cần chuyển mạnh sang đào tạo kỹ năng nghề mà không phải quá nhấn mạnh đào tạo trình độ nghề (vốn đòi hỏi phải học hành nhiều hơn, thời gian lâu hơn, học cả kiến thức văn hóa lẫn chuyên môn...). Chỉ khi được trang bị kỹ năng chuyên nghiệp và bài bản, người lao động Việt Nam mới có thể tự tín, chuyên nghiệp, đó chính là cánh cửa để cần lao Việt Nam bước vào thị trường lao động khu vực và thế giới. Nguyệt Hà |